VIÊM TUYẾN TIỀN LIỆT CẤP

Viêm tuyến tiền liệt cấp tính là một tình trạng nhiễm khuẩn nặng, thường đi kèm với viêm bàng quang cấp tính. Vì vậy triệu chứng lâm sàng cũng giống như viêm bàng quang cấp nhưng thường kèm theo có sốt cao, thậm chí có thể gây nhiễm khuẩn huyết. Vì vậy, viêm tuyến tiền liệt cấp tính cần được điều trị sớm và đúng, đủ liều thuốc và đủ thời gian. 1. NGUYÊN NHÂN Viêm tuyến tiền liệt cấp tính thường do vi khuẩn gram (-). Các loại vi khuẩn thường gặp là:

VIÊM ỐNG KẼ THẬN CẤP

1. ĐẠI CƯƠNG Viêm ống kẽ thận cấp là bệnh lý thường gặp gây nên suy thận cấp, còn được gọi là hoại tử ống thận cấp (acute tubular necrosis) hoặc là viêm kẽ thận cấp (acuteinterstitial nephritis). Tổn thương chủ yếu của bệnh lý này là hoại tử liên bào ống thận, là một bệnh lý nặng và tỷ lệ tử vong còn rất cao nếu không được xử trí một cách kịp thời và có hiệu quả. 2.NGUYÊN NHÂN Có rất nhiều nguyên nhân gây nên viêm ống kẽ thận cấp nhưng tập trung có thể chia làm 3 nhóm lớn:

VIÊM BÀNG QUANG CẤP

Viêm bàng quang cấp là tình trạng nhiễm khuẩn cấp tính tại bàng quang. Biểu hiện lâm sàng thường có hội chứng bàng quang rõ với tiểu buốt, tiểu dắt, có thể có tiểu máu, tiểu mủ ở cuối bãi. Xét nghiệm nước tiểu có bạch cầu niệu và vi khuẩn niệu. Bệnh thường gặp ở nữ với tỷ lệ nữ/nam = 9/1. Chẩn đoán và điều trị phụ thuộc vào các thể lâm sàng: viêm bàng quang cấp thông thường hay viêm bàng quang cấp biến chứng. I. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH 1. Các loại vi khuẩn thường gặp: Vi khuẩn gram(-) chiếm khoảng

THIẾU MÁU Ở BÊNH NHÂN LỌC MÁU

I. CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ THUỐC TẠO MÁU VÀ HEMOGLOBIN MỤC TIÊU - Hemoglobin bình thường, theo Hematology- Berliner: Nam : > 14g/dl Nữ : >12g/dl Bắt đầu điều trị thuốc tạo máu đối với bệnh nhân bệnh thận mạn khi hemoglobin xuống dưới 11g/dl ( 110 g/l). Hemoglobin tối ưu đối với bênh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối chưa biết rõ. - TheNational Kidney Foundation’s( NKF) Kidney Disease Outcome Quality Initiative ( KDOQI) hướng dẫn điều trị thiếu máu ( 2006) khuyến cáo rằng hemoglobin cho bệnh nhân

TĂNG HUYẾT ÁP TRÊN BỆNH NHÂN LỌC MÁU

I. ĐẠI CƯƠNG Tăng huyết áp: Huyết áp tâm thu trước chạy thận > 140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương > 90mmHg khi bệnh nhân đạt được trọng lượng khô. II. MỤC TIÊU ĐIỀU TRỊ - Áp suất động mạch mục tiêu được thiết lập tùy theo mỗi cá nhân, dựa vào tuổi, bệnh lý kèm theo, chức năng tim và tình trạng thần kinh. - Bệnh nhân tăng huyết áp tâm thu và tâm trương, đã có vài biến chứng tim mạch thì huyết áp cần đạt được trước chạy thận < 130/80mmHg, theo đúng chuẩn JNC VII đối với bệnh nhân bệnh

SUY THẬN MẠN GIAI ĐOẠN CUỐI

I. ĐẠI CƯƠNG Suy thận mạn giai đoạn cuối được xác định khi độ lọc cầu thận giảm xuống dưới 15ml/phút. II. NGUYÊN NHÂN - Bệnh viêm cầu thận mạn chiếm tỷ lệ 40%. - Bệnh viêm thận bể thận mạn chiếm tỷ lệ khoảng 30%. - Bệnh viêm thận mô kẽ thường do sử dụng các thuốc giảm đau lâu dài, do tăng aciduric máu, tăng calxi máu. - Bệnh mạch máu thận. - Bệnh thận bẩm sinh do di truyền hoặc không di truyền. - Bệnh hệ thông, chuyên hóa đái tháo đường.

SUY THẬN CẤP

I. ĐỊNH NGHĨA Suy thận cấp là hội chứng gây ra bởi nhiều nguyên nhân, có thể là nguyên nhân ngoài thận hoặc tại thận, làm suy sụp và mất chức năng tạm thời, cấp tính của cả hai thận, do ngừng hoặc suy giảm nhanh chóng mức lọc cầu thận. Biểu hiện lâm sàng là thiểu niệu hoặc vô niệu xảy ra cấp tính, tiếp theo là tăng nitơphiprotein trong máu, rối loạn cân bằng nước điện giải, rối loạn cân bằng kiềm toan, phù và tăng huyết áp. Suy thận cấp có tỉ lệ từ vong cao, nhưng nếu được chẩn đoán và điều trị

SỎI THẬN - TIẾT NIỆU

I. ĐẠI CƯƠNG Sỏi thận ( Nephrolithiasis) là bệnh lý thường gặp nhất của đường tiết niệu, bệnh lý này gặp ở nam giới nhiều hơn nữ giới. Tuổi mắc bệnh thường là từ 30 – 55 tuổi, nhưng cũng có thể gặp ở trẻ em (sỏi bàng quang). Tỷ lệ mắc bệnh sỏi thận tiết niệu chung trên toàn thế giới vào khoảng 3% dân số và khác nhau giữa các quốc gia. Chế độ ăn uống không hợp lý (quá nhiều đạm, Hydrat Carbon, Natri, Oxalat), nhiễm khuẩn tiết niệu, sinh sống ở vùng nóng, vùng nhiệt đới,... là những yếu tố thuận

HỘI CHỨNG THẬN HƯ Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH

I. Định nghĩa: Hội chứng thận hư là một hội chứng lâm sàng và sinh hóa, xuất hiện khi có tổn thương ở cầu thận do nhiều tình trạng bệnh lý khác nhau gây nên, đặc trưng bởi phù, protein niệu cao, protein máu giảm, rối loạn lipid máu và có thể đái ra mỡ. II. Chẩn đoán: 1. Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng thận hư: - 1. Phù - 2. Protein niệu > 3,5 g/24 giờ - 3. Protein máu giảm dưới 60 g/lít, albumin máu giảm dưới 30 g/lít - 4. Tăng cholesterol máu ≥ 6,5mmol/lít - 5. Có hạt mỡ lưỡng chiết, trụ mỡ

BỆNH THẬN ĐA NANG

1. ĐẠI CƯƠNG Bệnh được đặc trưng bởi xuất hiện nhiều nang ở cả hai thận. Bệnh thận đa nang là bệnh di truyền phần lớn theo gen trội, chỉ có một tỉ lệ nhỏ theo gen lặn. Gen bệnh lý nằm ở đầu xa, nhánh ngắn của nhiễm sắc thể thứ 16. Có khoảng 10-15% bệnh nhân, rối loạn gen nằm ở nhiễm sắc thể thứ 4. Có thể còn một gen thứ 3 chưa được xác định, di truyền tính trội. Bệnh thận nang có thể kết hợp với nang gan và các bất thường tim mạch. Bệnh thường dẫn tới suy thận giai đoạn cuối. Sự phát sinh và