THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM THẮT LƯNG

I. ĐỊNH NGHĨA Rách vòng xơ: sự tách những sợi của bao xơ, đứt những sợi bám vào thân sống hay đứt toàn bộ. Sự thoái hóa: mất nước, xơ hóa, hẹp khoang đĩa đệm, bao xơ phồng vượt ngoài đĩa đệm, rách bao xơ rộng, thoái hóa bao xơ, khuyết và xơ hóa tấm tận và gai xương. Bệnh thoái hóa đĩa đệm: hội chứng lâm sàng của những triệu chứng liên quan những thoái hóa ở đĩa đệm cũng như tổ chức xung quanh đĩa đệm. Phồng đĩa đệm: nhân đệm phồng lên cách lan tỏa vượt khỏi chu vi đĩa đệm. Không được xem là một

THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỔ

I. ĐẠI CƯƠNG Thoát vị đĩa đệm cổ có thể gây ra chèn ép rễ thần kinh hay tủy sống. Vì vậy bệnhcảnh biểu hiện có thể bệnh lý tủy (myelopathy), bệnh lý rễ (radiculopathy) hay phối hợp cả hai.

DÒ DỊCH NÃO TỦY SAU CHẤN THƯƠNG

I. Đại cương: Dò dịch não tủy (DNT) xảy ra trong 2-3% các trường hợp chấn thương đầu. 60% các ca dò DNT xảy ra vài ngày sau chấn thương, 95% trường hợp xảyra trong vòng 3 tháng. 70% số bệnh nhân dò DNT qua mũi tự khỏi trong vòng một tuần, số còn lạitự khỏi trong 6 tháng sau đó. Tỉ lệ người lớn: trẻ em là 10:1, bệnh hiếm gặp ở trẻ em < 2 tuổi. Ở trẻ em, tỉ lệ dò DNT sau chấn thương đầu < 1%. Hầu hết (80-85%) các ca dò DNT qua tai tự khỏi trong vòng 5- 10 ngày. Dò DNT sau chấn thương làm

ĐIỀU TRỊ LAO CỘT SỐNG

1. Đại cương Lao cột sống là một tình trạng viêm mãn tính do trực khuẩn lao Mycobacteria tuberculosis gây ra (trực khuẩn KOCH còn gọi là BK). Viêm gây tổn thương thân đốt sống trong hầu hết các trường hợp. Lao cột sống là bệnh chữa lành được, nhất là trong giai đoạn hiện nay với phương tiện điều trị sinh học là thuốc kháng lao tốt và các phương pháp điều trị phẫu thuật để giải quyết các vấn đề cơ học, chỉnh hình.

CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO

I. ĐẠI CƯƠNG: 1.1. Chấn thương sọ não là một chấn thương mà năng lượng chấn thương truyền tới sọ não vượt quá hạn chịu đựng (bù đắp) của sọ não và cơ thể gây nên rối loạn chức năng sọ não hoặc tổn thương cụ thể ở sọ não. 1.2. Lịch sử nghiên cứu - Năm 460-370 trước công nguyên, Hypocrate là người đầu tiên nghiêncứu về chấn thương sọ não và đã nói tới hiện tượng chảy máu trong sọ. - Năm 1773, Petit J.L là người đầu tiên đề ra bảng phân loại về chấnthương sọ não - Năm 1803-1886 Pirogop nói về đè

CHẤN THƯƠNG CỘT SỐNG - TỦY SỐNG CỔ

1. Đại cương: Chấn thương cột sống cổ(CTCSC)và tủy sống cổ(TSC) là một thương tổn nặng và phức tạp thường gây tử vong cao và để lại nhiều di chứng. Nó để lại một gánh nặng cho gia đình và xã hội. Cột sống cổ được chia làm hai vùng chính: Cột sống cổ cao gồm C1 và C2 và cột sống cổ thấp từ C3 đến C7. Đốt sống C1 không có thân đốt mà chỉ có cung trước và cung sau nối với nhau bởi khối bên và làm điểm tựa cho chùy chẩm nên được gọi là đốt đội. Riêng C2 gần giống với các đốt C3 đến C7 nhưng có thêm

CHẤN THƯƠNG CỘT SỐNG LƯNG-THẮT LƯNG

Gãy cột sống lưng - thắt lưng là một chấn thương thường gặp ở những nướcđang phát triển. Gãy cột sống có tổn thương tuỷ kèm theo là thảm hoạ đối vớingười bệnh và gia đình bệnh nhân.Việc điều trị gãy cột sống lưng - thắt lưng là cả một quá trình phát triển lâu dài. Trước đây, hầu hết các trường hợp gãy cột sống lưng - thắt lưng chỉ đượcđiều trị bảo tồn. Bệnh nhân phải nằm bất động trong bệnh viện dẫn đến rấtnhiều biến chứng và khó có sự hồi phục về thần kinh. Vì thế ngày càngcó nhiều khuynh

ÁP XE NÃO

I. ĐỊNH NGHĨA: Áp xe não là tình trạng viêm tạo mủ khu trú nằm trong tổ chức nhu mô não, có thể do vi trùng, nấm hoặc ký sinh trùng gây ra.

HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM GAN VI RÚT B

I. ĐẠI CƯƠNG - Viêm gan vi rút B là một bệnh phổ biến toàn cầu, do vi rút viêm gan B (HBV) gây ra. Bệnh có thể lây truyền qua đường máu, đường tình dục, từ mẹ truyền sang con. Nếu mẹ nhiễm HBV và có HBeAg (+) thì khả năng lây cho con là hơn 80% và khoảng 90% trẻ sinh ra sẽ mang HBV mạn tính. - Viêm gan vi rút B có thể diễn biến cấp tính, trong đó hơn 90% số trường hợp khỏi hoàn toàn, gần 10% chuyển sang viêm gan mạn tính và hậu quả cuối cùng là xơ gan hoặc ung thư gan. - HBV thuộc họ

BỆNH THỦY ĐẬU

1. ĐẠI CƯƠNGThủy đậu là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus Herpes zoster gây nên, lây từ người sang người qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc gần. Thủy đậu xảy ra chủ yếu ở trẻ em, biểu hiện bằng sốt và phát ban dạng nốt phỏng, thường diễn biến lành tính. Ở người có suy giảm miễn dịch, phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh, thủy đậu có thể tiến triển nặng dẫn đến các biến chứng nội tạng như viêm phổi, viêm cơ tim và có thể dẫn tới tử vong. Thủy đậu là bệnh dễ lây truyền; tỷ lệ lây nhiễm lên đến 90% ở